Thứ sáu, 19/01/2018 - 08:56|
Chào mừng bạn đến với cổng thông tin điện tử của Trường THCS An Lạc Tây

DẠY HỌC THEO CHỦ ĐỀ, ĐỔI MỚI SINH HOẠT CHUYÊN MÔN, DẠY HỌC PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC,...

Thế nào là dạy học theo chủ đề?

Dạy học theo chủ đề  là hình thức tìm tòi những khái niệm, tư tưởng, đơn vị kiến thức, nội dung bài học, chủ đề,… có sự giao thoa, tương đồng lẫn nhau, dựa trên cơ sở các mối liên hệ về lí luận và thực tiễn được đề cập đến trong các môn học hoặc các hợp phần của môn học đó (tức là con đường tích hợp những nội dung từ một số đơn vị, bài học, môn học có liên hệ với nhau) làm thành nội dung học trong một chủ đề có ý nghĩa hơn, thực tế hơn, nhờ đó học sinh có thể tự hoạt động nhiều hơn để tìm ra kiến thức và vận dụng vào thực tiễn.

 

Dạy học theo chủ đề là sự kết hợp giữa mô hình dạy học truyền thống và hiện đại, ở đó giáo viên không dạy học chỉ bằng cách truyền thụ (xây dựng) kiến thức mà chủ yếu là hướng dẫn học sinh tự lực tìm kiếm thông tin, sử dụng kiến thức vào giải quyết các nhiệm vụ có ý nghĩa thực tiễn.

Dạy học theo chủ đề là một mô hình mới cho hoạt động lớp học thay thế cho lớp học truyền thống (với đặc trưng là những bài học ngắn, cô lập, những hoạt động lớp học mà giáo viên giữ vai trò trung tâm) bằng việc chú trọng những nội dung học tập có tính tổng quát, liên quan đến nhiều lĩnh vực, với trung tâm tập trung vào học sinhnội dung tích hợp với những vấn đề, những thực hành gắn liền với thực tiễn.

Với mô hình này, học sinh có nhiều cơ hội làm việc theo nhóm để giải quyết những vấn đề xác thực, có hệ thống và liên quan đến nhiều kiến thức khác nhau. Các em thu thập thông tin từ nhiều nguồn kiến thức.

Việc học của học sinh thực sự có giá trị vì nó kết nối với thực tế và rèn luyện được nhiêu kĩ năng hoạt động và kĩ năng sống. Học sinh cũng được tạo điều kiện minh họa kiến thức mình vừa nhận được và đánh giá mình học được bao nhiêu và giao tiếp tốt như thế nào.Với cách tiếp cận này, vai trò của giáo viên chỉ là người hướng dẫn, chỉ bảo thay vì quản lý trực tiếp học sinh làm việc.

Dạy học theo chủ đề ở bậc trung học là sự cố gắng tăng cường tích hợp kiến thức, làm cho kiến thức có mối liên hệ mạng lưới nhiều chiều; là sự tích hợp vào nội dung những ứng dụng kĩ thuật và đời sống thông dụng làm cho nội dung học có ý nghĩa hơn, hấp dẫn hơn. Một cách hoa mỹ; đó là việc “thổi hơi thở” của cuộc sống vào những kiến thức cổ điển, nâng cao chất lượng “cuộc sống thật” trong các bài học.

Theo một số quan điểm, dạy học theo chủ đề thuộc về nội dung dạy học chứ không phải là phương pháp dạy học nhưng chính khi đã xây dựng nội dung dạy học theo chủ đề, chính nó lại tác động trở lại làm thay đổi rất nhiều đến việc lựa chọn phương pháp nào là phù hợp, hoặc cải biến các phương pháp sao cho phù hợp với nó.

Vì là dạy học theo chủ đề nên căn bản quá trình xây dựng chủ đề tạo ra quá trình tích hợp nội dung (đơn môn hoặc liên môn) trong quá trình dạy.

Ưu thế của dạy học chủ đề so với dạy học theo cách tiếp cận truyền thống hiện nay.

Mọi sự so sánh giữa bất kì mô hình hay phương pháp dạy nào cũng trở nên khập khiễng bởi mỗi một mô hình hay phương pháp đều có những ưu thế hoặc những hạn chế riêng có.

Tuy nhiên, nếu đặt ra vấn đề cho ngành giáo dục hiện nay là: Làm thế nào để nội dung kiến thức trở nên hấp dẫn và có ý nghĩa trong cuộc sống? Làm thế nào để việc học tập phải nhắm đến mục đích là rèn kĩ năng giải quyết vấn đề, đặc biệt là các vấn đề đa dạng của thực tiễn? Có phải cứ phải dạy kiến thức theo từng bài thì học sinh mới hiểu và vận dụng được kiến thức? Làm thế nào để nội dung chương trình dạy luôn được cập nhật trước sự bùng nổ vũ bão của thông tin để các kiến thức của việc học và dạy học thực sự là thế giới mới cho những người học?

Việc trả lời các câu hỏi trên đồng nghĩa với việc xác định mục tiêu giáo dục, mô hình dạy học trong thời đại mới. Đồng thời, cũng sẽ chỉ ra cho ta thấy những lợi thế nhất định của từng mô hình khi áp dụng vào giảng dạy.

Điểm tương đồng giữa dạy học chủ đề và dạy học truyền thống là VẪN COI VIỆC LĨNH HỘI NỘI DUNG LƯỢNG KIẾN THỨC NỀN TẢNG, vì thế dạy học theo chủ đề là mô hình dạy học có thể vận dụng vào thực tiển hiện nay dễ dàng hơn một số mô hình khác. Điều cần làm để có thể vận dụng nó là phải tổ chức lại một số bài học thành một chủ đề được cho là sự tích hợp tốt hơn, có ý nghĩa thực tiễn hơn cách trình bày của sách giáo khoa mà chúng ta đang có.

Điểm khác biệt cơ bản dẫn tới nhiều khác biệt ở trên là:

Một, dạy học theo chủ đề cũng như một số mô hình tích cực khác, giáo viên không đựoc coi học sinh là chưa biết gì trước nội dung bài học mới mà trái lại, luôn phải nghĩ rằng các em tự tin và có thể biết nhiều hơn ta mong đợi, vì thế dạy học cần tận dụng tốt đa kiến thức, kinh nghiệm, kĩ năng có sẵn của các em và khuyến khích khả năng biết nhiều hơn thế của học sinh về một vấn đề mới để giảm tối đa thời gian và sự thụ động của học sinh trong khi tiếp nhận kiến thức mới, để tăng hiểu biết lên nhiều lần so với nội dung cần dạy.

Hai, dạy học theo chủ đề nhắm tới việc sử dụng kiến thức, hiểu biết vào thực tiễn các nhiệm vụ học tập nhắm tới sự lĩnh hội hệ thống kiến thức có sự tích hợp cao, tinh giản và tính công cụ cao, đồng thời hướng tới nhiều mục tiêu giáo dục tích cực khác (VD các năng lực), trong khi dạy học theo truyền thống lại coi trọng việc xây dựng kiến thức nên chỉ nhắm tới các mục tiêu được cho là quá trình này có thể mang lại.

Ba, trong dạy học theo chủ đề kiến thức mới được học sinh lĩnh hội trong quá trình giải quyết các nhiệm vụ học tập, đó là kiến thức tổ chức theo một tổng thể mới khác với kiến thức trình bày trong tất cả các nguồn tài liệu. Hơn nữa, với việc học sinh lĩnh hội kiến thức trong quá trình giải quyết nhiệm vụ học tập, cũng mang lại một lợi thế to lớn đó là mở rộng không gian, thời gian dạy học, tinh giản thời gian dạy, độ ứng dụng thực tế cao hơn nhiều.

Bốn, với dạy học theo chủ đề, vai trò của giáo viên và học sinh cơ bản là thay đổi và khác so với dạy học truyền thống. Người giáo viên từ chỗ là trung tâm trong mô hình truyền thống đã chuyển sang là người hướng dẫn, học sinh là trung tâm.

Tại sao nên quan tâm đến dạy học theo chủ đề trong tiến trình đổi mới giáo dục hiện nay?

* Về mặt lý luận

Hiện nay, có ba lý do quan trọng cần lưu tâm và đặt chúng ta phải nghĩ đến một giải pháp làm thế nào để đáp ứng và giải quyết được ba vần đề này, chính là:

Một, trước yêu cầu đổi mới căn bản, toàn diện về giáo dục – trong đó chú trọng đổi mới phương pháp, cách tiếp cận dạy học theo định hướng phát huy tính tích cực của học sinh.

Hai, tính giới hạn về định lượng nội dung trong sách giao khoa và quá trình bùng nổ thông tin, tri thức kèm theo đó là nhu cầu cập nhật kiến thức vô hạn đối với sự học của người học.

Ba, với cách tiếp cận giảng dạy truyền thống hiện có, liệu chúng ta đủ khả năng để thực hiện các mục tiêu dạy học tích cực như; tăng cương tích hợp các vấn đề cuộc sống, thời sự vào bài giảng; tăng cường sự vận dụng kiến thức của học sinh sau quá trình học vào giải quyết các vấn đề thực tiễn; rèn luyện các kĩ năng sống phong phú vốn rất cần cho người học hiện nay?

Thêm vào đó, ngoài việc quá trình dạy học hướng tới định hướng nội dung học như đã có, thì đổi mới dạy học hiện nay còn có tham vọng tiến xa hơn đó là định hướng hình thành NĂNG LỰC cho học sinh.

Do đó, dạy học theo chủ đề với những lợi thế về đặc điểm như đã so sánh ở trên so với dạy học theo cách tiếp cận truyền thống, đặc biệt là nó có thể giải quyết được ba vấn đề trên, chính là bước chuẩn bị tương đối phù hợp cho đổi mới chương trình và sách giáo khoa trong thời gian tới.

Trên phương diện thực tiễn

Cần khẳng định rằng, mục tiêu giáo dục hiện nay của chúng ta đã bắt đầu chuyển hướng sang chú trọng tới định hướng phát triển năng lực học sinh. Theo đó, chúng ta kì vọng vào quá trình dạy học, kiểm tra đánh giá chú trọng tăng cường tính vận dụng kiến thức vào giải quyết những vấn đề thực tiễn của người học và nhờ vào quá trình đó các năng lực được hình thành.

Tuy nhiên, trong thực tế, diện mạo đời sống xã hội không hiện diện đầy đủ ở bất cứ bài nào trong chương trình học. Nói cách khác, không thể gom hết toàn bộ xã hội sinh động vào nội dung chương trình của bất kì một môn học nào như một dạng kim chỉ nam xuyên suốt, kinh điển, giáo điều.

Thực tế trên cho thấy, khi giải quyết một vấn đề trong thực tiễn, bao gồm cả tự nhiên và xã hội, đòi hỏi học sinh phải vận dụng kiến thức tổng hợp hoặc liên quan đến nhiều môn học. Vì vậy, dạy học cần phải tăng cường theo hướng tích hợp đa chiều, liên môn. Do đó, hệ quả là buộc chúng ta phải xây dựng các chủ đề để tiến hành dạy học. Tất nhiên, việc xây dựng các chủ đề trong dạy học cũng không tham vọng sẽ giải quyết việc đưa toàn bộ thực tiễn vào chương trình, thậm chí mô hình này cũng chưa thể tạo ra một phương pháp giáo dục hoàn toàn mới, nhưng quan trọng hơn hết chính là nó mở đường cho giáo viên và học sinh tiếp cận với kiến thức theo một hướng khác. Không phải là sự thụ động mà là chủ động của học sinh. Không phải là sự tiếp nhận kiến thức sau khi học mà có thể là ngay khi làm nhiệm vụ học. Nó cũng không chỉ dừng ở mục tiêu “đầu vào” về kiến thức mà nó còn hướng tới định hướng “đầu ra” (tức khả năng vận dụng kiến thức vào giải quyết thực tiễn) nhờ vào việc xác định các năng lực cần phát triển song song với những mục tiêu về chuẩn nội dung kiến thức, kĩ năng trong chương trình học.

Ngoài ra, một thực tế khác cũng đáng quan tâm: hiện nay, ít nhiều trong chương trình học (bao gồm cả trong một bộ môn theo bậc hoặc các môn khác nhau theo một bậc) cũng có nhiều đơn vị kiến thức có tính giao thoa, liên hệ tương đối gần hoặc trùng lặp.

Các định hướng xây dựng chủ đề dạy học

Chủ đề dạy học được xây dựng theo một trong các định hướng sau đây:

Chủ đề đơn môn: Là các chủ đề được xây dựng bằng cách cấu trúc lại nội dung kiến thức theo môn học trên cơ sở nghiên cứu chương trình SGK hiện hành đảm bảo các yêu cầu về chuẩn kiến thức, kỹ năng, thái độ.

Chủ đề liên môn: Bao gồm các nội dung dạy học gần giống nhau, có liên quan chặt chẽ với nhau (có thể đang trùng nhau) trong các môn học của chương trình hiện hành, biên soạn thành chủ đề liên môn.

1. Tại sao phải dạy học theo chủ đề tích hợp?

Hiện nay chúng ta đang dạy học theo định hướng nội dung. Thực tiễn đặt ra phải đổi mới, dạy học theo hướng hình thành năng lực cho học sinh.

Dạy học theo chủ đề tích hợp là bước chuẩn bị cho đổi mới chương trình và sách giáo khoa thời gian tới.

2. Hiểu bản chất của chủ đề tích hợp như thế nào?

Đây là vấn đề đặt ra trong đời sống xã hội, trong thực tiễn, không có tên ở bài nào trong chương trình hiện hành. Chủ đề tích hợp được soạn theo yêu cầu hình thành một năng lực nào đó cho học sinh trong thực tiễn.

Sản phẩm của dạy học theo chủ đề tích hợp là giáo án về chủ đề đó, có liên quan đến kiến thức của 2 bộ môn trở lên. Sau bài học, học sinh biết làm gì? Hình thành năng lực gì?

Có 3 tên chủ đề:

+ Chủ đề tích hợp: dành cho giáo viên (đưa kiến thức từ đời sống đến bài dạy)

+ Chủ đề liên môn: dành cho học sinh (đưa kiến thức từ nhiều môn học để giải quyết cá tình huống trong thực tiễn cuộc sống).

+ Chủ đề dạy học: tập hợp các đơn vị kiến thức gần nhau để xây dựng thành 1 chủ đề.

Năng lực học sinh: phải chỉ ra được việc hình thành các năng lực thực tiễn.

3. Hình thức dạy học chủ đề tích hợp?

Dạy luôn trong chương trình, quỹ thời gian lấy ở các bài đơn lẻ, đã được dạy trong bài dạy tích hợp. Có thể dạy trong nhiều tiết, nên từ 2-3 tiết/chủ đề.

Không gian tổ chức: tại lớp, sân trường, xưởng sản xuất, không gian nơi trải nghiệm...

4. Đổi mới sinh hoạt chuyên môn theo hướng phân tích hoạt động?

Các nhà trường xây dựng các phòng dự giờ phân tích hoạt động của học sinh. Từ việc nhận xét học trò để điều chỉnh hoạt động của thầy và trò.

Quan tâm đến hình thành kỹ năng học tập, phương pháp hoạt động nhóm (học sinh phải được hoạt động, không ngồi chơi, ỉ lại)

Đổi mới cách thức đầu tư cơ sở vật chất: phòng dự giờ, bảng thông minh, máy chiếu vật thể...

Vấn đề viết các chủ đề tích hợp: phải quan tâm đến giáo án; thể hiện các hoạt động; các thiết bị đồ dùng dạy học, các tài liệu, minh chứng (video, ảnh...); phải đánh giá được việc dạy chủ đề tích hợp đã chỉ ra được năng lực của học sinh được hình thành gắn với giải quyết các tình huống trong cuộc sống tại thực tiễn địa phương.

Người cán bộ quản lý và giáo viên phải đảm bảo được trình độ năng lực về chuyên môn, công nghệ...

Gv cần chú ý phân biệt: Kỹ năng, năng lực, năng lực chuyên biệt:

Năng lực là một thuộc tính tâm lý phức hợp, là điểm hội tụ của nhiều yếu tố như tri thức, kỹ năng, kỹ xảo, kinh nghiệm, sự sẵn sàng hành động và trách nhiệm đạo đức.

Năng lực là những khả năng và kĩ xảo, học được hoặc sẵn có của cá thể nhằm giải quyết các tình huống xác định, cũng như sự sẵn sàng về động cơ, xã hội…và khả năng vận dụng các cách giải quyết vấn đề một cách có trách nhiệm và hiệu quả trong những tình huống linh hoạt.

Trong giáo dục, để thuận lợi cho việc đánh giá năng lực người học, người ta quan tâm nhiều đến năng lực hành động và coi trọng hơn năng lực cuộc sống. Cấu trúc năng lực gồm: năng lực chuyên môn, năng lực phương pháp, năng lực xã hội, năng lực cá thể. Các thành phần năng lực “gặp nhau” tạo thành năng lực hành động.

Năng lực môn học (chuyên biệt): Năng lực riêng được hình thành và phát triển do một lĩnh vực/môn học nào đó.

Minh họa cụ thể một vài môn học:

NĂNG LỰC CHUYÊN BIỆT MÔN ĐỊA LÝ:

Các năng lực chuyên biệt môn địa lí:

Năng lực tư duy tổng hợp theo lãnh thổ

Năng lực học tập tại thực địa

Năng lực sử dụng bản đồ

Năng lực sử dụng số liệu thống kê

Năng lực sử dụng ảnh, hình vẽ, video clip, mô hình

NĂNG LỰC CHUYÊN BIỆT MÔN NGỮ VĂN:

Đọc hiểu văn bản

Tạo lập văn bản

Năng lực sử dụng tiếng Việt

NĂNG LỰC CHUYÊN BIỆT MÔN TOÁN:

1. Năng lực thu nhận thông tin Toán học: Năng lực tri giác hình thức hoá tài liệu toán học, năng lực nắm cấu trúc hình thức của bài toán.

2. Chế biến thông tin toán học:

- Năng lực tư duy logic trong lĩnh vực các quan hệ số lượng và không gian, hệ thống kí hiệu số và dấu. Năng lực tư duy bằng các kí hiệu toán học.

- Năng lực khái quát hoá nhanh và rộng các đối tượng, quan hệ toán học và các phép toán.

- Năng lực rút gọn qua trình suy luận toán học và hệ thống các phép toán tương ứng. Năng lực tư duy bằng các cấu trúc rút gọn.

- Tính linh hoạt của các quá trình tư duy trong hoạt động toán học.

- Khuynh hướng vươn tới tính rõ ràng, đơn giản, tiết kiệm, hợp lí của lời giải.

- Năng lực nhanh chóng và dễ dàng sửa lại phương hướng của quá trình tư duy, năng lực chuyển từ tiến trình tư duy thuận sang tiến trình tư duy đảo.

3. Lưu trữ thông tin toán học:

- Trí nhớ toán học (Trí nhớ khái quát về các: quan hệ toán học, đặc điểm về loại, sơ đồ suy luận và chứng minh, phương pháp giải toán, nguyên tắc, đường lối giải toán).

4. Năng lực vận dụng Toán học vào giải quyết vấn đề:

- Năng lực vận dụng các tri thức Toán (chủ yếu là tri thức chuẩn) như công cụ trong học tập.

- Năng lực giải một số bài toán có tính thực tiễn điển hình.

- Năng lực vận dụng tri thức Toán, phương pháp tư duy Toán vào thực tiễn.

- Khuynh hướng, khả năng Toán học hóa các tình huống.

- Lập luận logic trong giải toán

- Giao tiếp, sử dụng ngôn ngữ toán.

- Vận dụng kiến thức Toán để giải quyết tình huống có vấn đề.

NĂNG LỰC CHUYÊN BIỆT MÔN SINH HỌC

Năng lực kiến thức Sinh học; Năng lực nghiên cứu khoa học (Năng lực quan sát, Năng lực thực nghiệm) và Năng lực thực hiện trong phòng thí nghiệm.

- Năng lực kiến thức sinh học bao gồm các kiến thức về các cấp độ tổ chức sống từ phân tử - tế bào – cơ thể - quần thể - quần xã – hệ sinh thái; kiến thức về cơ sở vật chất của các hiện tượng di truyền và biến dị; kiến thức về tính quy luật của hiện tượng di truyền và ứng dụng di truyền học; các kiến thức về tiến hoá và sinh thái học.

- Năng lực nghiên cứu khoa học bao gồm: quan sát các hiện tượng trong thực tiễn hay trong học tập để xác lập vấn đề nghiên cứu; thu thập các thông tin liên quan thông qua nghiên cứu tài liệu, thực nghiệm; hình thành giả thuyết khoa học; thiết kế thí nghiệm; thực hiện thí nghiệm; thu thập và phân tích dữ liệu; giải thích kết quả thí nghiệm và rút ra kết luận.

- Năng lực thực hiện trong phòng thí nghiệm bao gồm các kĩ năng chính như: kĩ năng sử dụng kính hiển vi; kĩ năng thực hiện an toàn phòng thí nghiệm; kĩ năng làm một số tiêu bản đõn giản; kĩ năng bảo quản một số mẫu vật thật...

NĂNG LỰC CHUYÊN BIỆT MÔN SỬ

Tái hiện sự kiện, hiện tượng, nhân vật

Thực hành với đồ dùng trực quan

Xác định mối liên hệ, tác động giữa các sự kiện, hiện tượng

So sánh, phân tích, khái quát hóa

Nhận xét, đánh giá, rút ra bài học lịch sử

Vận dụng kiến thức lịch sử để giải quyết vấn đề thực tiễn đặt ra

Thông qua sử dụng ngôn ngữ thể hiện chính kiến của mình

NĂNG LỰC CHUYÊN BIỆT MÔN VẬT LÍ

Năng lực giải quyết vấn đề

Năng lực hợp tác

Năng lực thực nghiệm

Năng lực quan sát

Năng lực tự học

Năng lực sáng tạo

Năng lực quản lý

Năng lực sử dụng CNTT

Năng lực sử dụng ngôn ngữ

Năng lực tính toán

 

NĂNG LỰC CHUYÊN BIỆT MÔN TIN

Năng lực tự học

Năng lực giải quyết vấn đề

Năng lực sáng tạo

Năng lực tự quản lý

Năng lực giao tiếp

Năng lực hợp tác

Năng lực sử dụng CNTT-TT

Năng lực sử dụng ngôn ngữ

Năng lực tính toán

.....

GV tự tìm hiểu học hỏi thêm trên mạng internet

 

 

 

 

 

Bài tin liên quan